Phần 3: Di sự của Tiên Tỷ (Chị)
Chị là vợ quan Lễ bộ Viên Ngoại Lang họ Phan, tức là trưởng nữ của cha mẹ tôi.
Ngày Gia từ tạ thế, các anh em nam nữ kể là 11 người, song chỉ còn hiện diện có 7 người, về gia thất thì chỉ có chị ba đã hứa gả.
Tiên nghiêm vì tha thiết với nguyện vọng dân chúng quê hương, cho nên chị ba tình nguyện ở lại phụng sự Tiên nghiêm và chăm sóc các em, cho Tiên nghiêm rảnh rang lo việc dân chúng.
Tiên nghiêm mến thương cái tình ý cao đẹp ấy, vì vậy định gả cho anh họ Phan, mà bắt buộc phải ở rể.
Trong thời gian hơn 10 năm, chị lo trồng dâu, trồng mía, kéo chỉ, ươm tơ, đốc thúc các em gái tập tành nữ công. Anh Kinh Lịch, Thứ tôi và em Lữ cũng đều được đi học. Cơm áo, tiêu dùng, chị sắp xếp có phương cách, Tiên nghiêm nhân thấy đấy được vơi bớt sự lo lắng gia đình.
Ít năm sau, chẳng may gia đình lại gặp nạn hỏa hoạn, gia cảnh vì vậy càng ngày càng thấy thiếu hụt. Chị ba thấy vậy lại càng hết sức lo lắng, nhờ đó cảnh nhà cũng được duy trì mức cũ, không đến nỗi suy sụp.
Về sau, Tiên nghiêm gả chị tư cho anh Tú Tài con nhà họ Nguyễn Châu ở xứ Thanh Chiêm, chị sáu đã biết cáng đáng việc nhà, chị ba bèn về châu Dinh Trấn Đông tạo nhà yên ở. Chị sinh được 2 trai, nhưng đều chết nhỏ. Do đó chị buồn rầu sinh bệnh, càng lúc bệnh càng thêm nhiều, ngày anh Kinh Lịch đậu Tú Tài, vừa về đến quê nhà là hơi thở của chị sắp tàn vậy.
Than ôi! Chị ba có cái đức bảo bọc dắt dìu còn hơn bà Họ Giã thuở xưa, mà bọn em út chúng tôi lại không đáp đền được một bữa cháo như nhà họ Lý! Ngậm ngùi nhớ đến chị, thật lấy làm đau xót ruột gan.
Phần 4: Di sự của Vong Đệ (Em trai đã mất)
Em Phú Lữ mới 4 tuổi mà Gia từ qua đời, Thứ tôi bấy giờ vừa 7 tuổi, anh Kinh Lịch 10 tuổi, anh đã biết ham học, Tiên nghiêm hằng ngày chỉ dạy anh.
Thứ tôi và em Lữ còn thơ ấu, thường thường ít ngày là dắt nhau đến nhà ông ngoại ở Trừng Giang. Bà ngoại thương chúng tôi sớm mất mẹ, cho ăn, cho uống, vỗ về, luôn luôn chu tất.
Em Lữ tánh rất sáng dạ, có lần cùng nhau ở nhà giữ nhà, anh em bàn luận chút chuyện, em Lữ không chịu nghe. Thứ tôi tỏ sắc giận trách đó! Giây lát, em đứng dậy khoanh tay cúi đầu xin tạ tội, nói: "Đấy là cái lỗi của em." Lúc ấy em mới 6 - 7 tuổi mà cử động như thế. Thứ tôi trong lòng rất lấy làm lạ!
Em vừa biết học tập thì chú ý vào sách vở không chút lười biếng. Những đoạn văn nghĩa em học, em cạo giấy cũ có trứng tằm mà chép vào, còn giấy trắng tốt em để chép bài học chính. Em tiện tặn xài dùng đúng mức, không phí dụng bừa bãi. Ngày thường em không ham gì cả, chỉ cùng Thứ tôi học đánh cờ vây, đào đất dưới ao lấy đất sét chế làm con cờ đen, trắng, đem phơi, rảnh thì anh em "nói chuyện bằng tay" để cùng vui - non hai năm em trở thành cao cờ, lấn hơn các anh tú tài Phạm Gia Phú và anh Châu Bí Nguyễn Trinh Phủ.
Sau khi các chị vu quy hết, những món xôi chè, bánh trái cần dùng trong ngày giỗ kỵ, tết nhất trong nhà đều do tay em tự chế biến, do đó người quen trong làng gọi em là "cô gái".
Về sau, tôi cùng em tôi đồng cầu học với cụ Trà Kiệu Thiếu Khanh Nguyễn tiên sinh, anh Kinh Lịch thấy có trách nhiệm phải tự lo lắng việc thiếu đủ trong nhà, nên xin ở nhà xem sóc. Tiên nghiêm bằng lòng bèn cho Thứ tôi và em Lữ đi học.
Em học lần lần tiến tới, tính đến khoa năm sau sẽ đi thi hương. Bỗng em vướng bệnh, từ tháng Giêng đến tháng 5, thuốc thang không thấy công hiệu. Trong cơn bệnh nặng, em thấy Thứ tôi từ tỉnh xem bảng khảo hạch về, bấy giờ em tuy yếu mệt lắm nhưng cũng ráng làm sắc vui nằm nói với tôi: "Nghe anh được đứng đầu, em thật mừng quá!"
Chẳng mấy ngày em mất, em mới 18 tuổi!
Trời ơi! Nếu trời ban cho em tôi thêm mấy tuổi, tài danh em thành tựu, đâu có thể đo lường.



