LỜI TỰA TỘC PHỔ
Ông Tô Công Lão Tuyền khi viết quyển Tộc Phổ có dẫn lời bậc Tiền Hiền rằng: "Tộc Phổ rất đúng với đạo của bậc hiền giả."
Gẫm kỹ lời nói này, biện luận rất thâm thiết về cội nguồn của tình cốt nhục và khơi động rất sâu rộng tình thâm ái của nội tâm con người.
Họ Phạm Phú (范富) khởi tiên nhận họ, thì đời thứ nhất dựng nghiệp tại xã Đông Bàn (1) huyện Diên Phước (2), tỉnh Quảng Nam. Đời đời là họ lớn nhất trong làng. Truyền dần đến đời thứ ba, bắt đầu chia ra 3 phái: Trưởng phái truyền xuống có nhiều người hiển hách về Văn khoa, Thứ phái thì lại được lắm người tài ba về Võ bị.
Kể đến nay, thuộc đời thứ 6, thứ 7, sử sách ghi chép ngoài một trăm bậc khoa giáp hiển vinh, được danh tiếng là một vọng tộc trong làng vậy.
Đại khái sử thoại trong các đời của đại tộc Phạm Phú tôi được nghe do ông Phạm Tử Thúc Minh (3) và anh của ông là ngài Bá Loan (4) với vị Tộc trưởng là ông Tùy Dương (5) khi sắp xếp vừa xong quyển Tộc Phổ thì đem đại lược các đời trong họ trao cho tôi xem và dạy cho tôi viết cho lời tựa.
Nghe lời nói thể nghiệm đến tình cảm nội tâm phơi phới, tôi nói: "Đẹp thay tấm lòng của người con, người cháu, phô bày tỏ rõ cái tâm tư của bậc hiền giả vậy."
Đây quyển Tộc Phổ được nêu lên sự vinh diệu của tổ tiên, nay được ghi lại những gương xán lạn cho hàng con cháu hậu lai noi theo.
Tôi cảm thấy vui lây cái đạo lý của hiền giả nên kính thuật lời văn Ông Tô Công, là một lời rất phù hợp với đạo nghĩa của các người bạn thân thiết của tôi, đến như ghi chép sự thật trong họ thì đã sẵn Tộc Phổ, tôi đâu lại tiếc lời phụ họa thêm ư!
Khoa Quý Mão điện thí ân tứ Tiến sĩ đệ nhất giáp, cập đệ Thám hoa, xử lý chức Thị Độc Nội các bí thư.
Thời: Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), ngày thượng hoán, mạnh Thu Ất Tỵ.
- (1) Xã Đông Bàn sau đổi là xã Phú Thọ và nay là xã Điện Trung.
- (2) Huyện Diên Phước sau đổi là huyện Điện Bàn.
- (3) Phạm Tử Thúc Minh, năm Ất Tỵ vinh thăng chức Vĩnh Lộc Đại phu Trụ quốc Văn Ý tướng công, ông đổi là Trúc Đường.
- (4) Bá Loan sau đổi là Đông Hiên, chức Trung Phụng Đại Phu thụy là Đoan Trực.
- (5) Tùy Dương làm chức Hương Thân trong làng, là cháu đích tôn đời thứ 7 trong họ Phạm Phú.
LỜI KẾT (1974)
Tôi Phạm Phú Khiêm, con trai thứ 16 của Đệ Thất Thế Phạm Phú Tường, cháu nội Đệ Lục Thế Phạm Phú Thứ. Tôi ở về đời thứ 8, Phái Nhất - Chi năm, Di Yến Đường nhánh 2.
Tôi năm nay 71 tuổi, tuổi đã già, sức thấy yếu, hồi tưởng lại trong gia tộc Phạm Phú, thì cảm thấy anh chị em cùng ở đời thứ 8 không còn bao nhiêu người! Các con cháu, chắt, chít của các Chi, Phái thì lại vì chiến tranh làm cho ly tán kẻ một nơi, người một ngả, có khi 5, 3 năm mà không gặp được mặt nhau, có năm tổ chức được lễ truy niệm chung, thì chỉ tụ họp được vài ba trăm người, đáng lẽ là một hai ngàn người!
Vì vậy mà tôi cảm thấy hiện tại nếu không cố công sưu tầm danh sách những người trong tộc họ thuộc đời thứ 9, 10, 11, 12, mà nối tiếp với quyển Tộc Phổ có sẵn các đời trước, để lập thành một quyển tộc phổ khá đầy đủ hơn, thì chắc chắn rồi đây, con cháu đời sau sẽ đặt tên con trùng với tên ông cha tổ tiên, mà cũng có thể là người trong một họ, rồi Nam Nữ lại làm sui gia với nhau mới là tai hại.
Bởi nghĩ như thế, tôi gửi thư đi các nơi thân tộc xa, yêu cầu sưu tầm danh sách hệ phái người trong Họ, và tự tôi đi đến những nhà dòng dõi nào mà có phương tiện di chuyển để hỏi han ghi chép nguồn gốc.
Công việc toan tính đã mấy năm, nhưng đến năm Quý Sửu (1973), tôi mới tìm được một người bạn già biết nhiều chữ Việt và chữ Hán (thầy giảng sư Huệ Chí ở Bình Thới Chợ Lớn) để nhờ dịch lại quyển Tộc Phổ chữ Hán đã có từ trước, và ghi thêm những danh sách tôi tìm được sau...
Công việc sưu tầm soạn dịch ngót một năm mới tạm gọi hoàn tất.
Hôm nay, tiết Trung Thu năm Giáp Dần nhằm ngày 30 tháng 09 năm 1974.
Tôi bùi ngùi trân trọng rửa tay ghi vào tờ chót quyển tộc phổ này vài hàng, để con cháu về sau xem lấy, mà có thể kế tiếp sưu tầm từng đời, cho khỏi quên nguồn mất gốc của dòng họ Phạm Phú vậy.
Chợ Quán
Phạm Phú Khiêm
Lưu ký
TỘC PHỔ - SỰ TÍCH CHI PHÁI MIỀN NAM
Dịch đến đây tờ chót quyển Tộc Phổ chữ Hán do tay Cụ Phú Tổn (cháu Đích Tôn đời thứ 9) Họ Phạm Phú biên soạn, tôi thấy có bài Tộc Phổ rất có ý nghĩa trong tình tông tộc, và cũng rất nồng nàn trong tình nghĩa anh em, cho nên tôi cung kính ghi luôn vào đây để các huynh đệ, tỷ muội trong họ xem qua, và có thể đặt thành trách nhiệm của người trong họ như Cụ Phú Hân vậy.
Tổ Phú Phiệt, con trai lớn của Tổ Phú Quân (quen gọi là Thược), chức Tá Kỵ Úy quan võ.
Trong niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3 (1843), Tổ Đôn Giản thọ chức Tư vụ (tức đệ ngũ thế Tổ Phú Nghĩa) phải đến tỉnh Biên Hòa thi hành chức vụ dạy học, Phú Phiệt xin theo hầu hạ (tức theo chú ruột).
Đến năm Tự Đức thứ 8 (1855), Tổ Đôn Giản cáo lão hồi hương, Phú Phiệt hiện đã có gia thất ở hương thôn miền Nam nên không chịu về xứ. Tổ Đôn Giản chỉ dặn dò giáo dụ đôi điều rồi ngậm ngùi giã biệt.
Đến năm Tự Đức thứ 15 (1862), con trai trưởng của Tổ Phú Phiệt là Phú Chất đi vào Nam tìm cha, trải qua mấy năm cũng biệt luôn tin tức.
Đến năm Thành Thái thứ 5 (1892), Tổ Kinh Lịch Phạm Tư Chi (đệ lục thế Phú Thận) vào trấn nhậm tỉnh Phú Yên, Tổ cho con trai thứ là Phú Hân vào Gia Định học thông dịch (tức thông phán).
Phú Hân bắt được tin dòng dõi Phạm Phú hiện có người ở tỉnh An Giang, phủ Tịnh Biên, tổng Quy Ninh, xã An Thạnh. Phú Hân liền đến nơi ấy, hỏi thăm lần lần thì tìm được. Nhân nơi đó là tỉnh thành An Giang, Phú Hân bèn ở trọ nơi nhà của con Phú Chất mà học thông dịch rất tiện dịp.
Khoảng năm Thành Thái thứ 7, thứ 8 (1894-1895), trong họ tiếp được thư của Phú Hân và của con cháu Phú Chất gửi về trước sau 3 bức. Trong thư thuật rằng Tổ Phú Phiệt và Phú Chất đã tạ thế hết, nhưng hiện con cháu Phú Chất đã trưởng thành và đã có sui gia. Được gặp Phú Hân tìm đến, mới biết rõ cội nguồn rành rọt, muốn vội vàng đem nhau về thăm quê quán ông cha, nhưng vì quan san cách trở, chưa tiện khởi hành, nên trước tạ tội kính dâng lên ít hàng trình bày gốc ngọn, chờ một ngày chẳng lâu cùng nhau sẽ về thăm.
Trong thư có trình lên danh sách con cháu (đã ghi ở trang 61 quyển tộc phổ này). Cũng trong năm này, đường thúc của tổ Phú Hiệp có đem lễ vật và thư đến trình qua trong họ, đã được sắp theo thứ hệ trong Tộc Phổ.
GIA PHẠM
(Nếp Nhà)
DI CẢO CỦA NỘI TỔ
Trúc Đường Phạm Phú Thứ
(Bị cháy hư khuyết, trùng tu lại ngày: Tháng 04 năm 1957 - Tức tháng 02 năm Đinh Dậu)
Nội Tôn Phạm Phú Khiêm sưu tập
Mạnh Xuân năm Ất Mão - 1975 - Sài Gòn.
Ghi chú: Mọi sự tu sửa những thiếu sót hoặc lầm lẫn trong quyển Tộc phổ Họ PHẠM PHÚ này xin gửi chi tiết về địa chỉ sau: ông Phạm Phú Khiêm, số 197/12A đường Trần Bình Trọng, Chợ Quán, Sài Gòn 5.
[1] Theo âm Hán Việt thì gọi là ông “Thủy Tổ”.



